ĐẾN NAM TRUNG BỘ ĐÓN TẾT HUẾ
- Mai Trần Phương
- 22 thg 5, 2025
- 7 phút đọc
Đã cập nhật: 1 thg 8, 2025
Xứ "nẩu" dân nhập cư cũng khá nhiều, trong đó có người Huế. Khi bàn về tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân trong trường ca "Mặt đường khát vọng", nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có viết: "Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân". Họ ở đây là những người bình dân ta, mỗi khi đến vùng đất mới thì vẫn còn hoài vọng quê hương trong từng dáng hình, giọng nói, nếp sống và nếp nghĩ suy. Nhà nội tôi cũng vậy, chất Huế đến ngày nay vẫn còn đặc sệt, dù đám con cháu ra đường nói toàn giọng Nam Trung Bộ. Thế nên sau cánh cửa ngõ có hàng tre thân vàng khụt khịt trong gió, Tết mang phong vị Huế rất riêng!
Đó là ăn Tết một cách bài bản và tỉ mỉ.
Khi tháng Chạp vừa gõ cửa, nội tôi cùng ba mẹ và chú út đã ngồi bàn với nhau Tết này sẽ làm những thứ gì, số lượng bao nhiêu, dự định biếu quà những ai. Lũ nhỏ chúng tôi ngồi xúm xít xung quanh, thích thú lắng nghe nhưng cơ hồ cũng cảm thấy việc nhiều và rối rắm tới mức khá là nhức đầu: giữa tháng Chạp cánh đàn ông phải lặt lá mai hết mấy cây từ trước ra sau nhà, sau đó vào thăm mộ ông bà xem có cần sửa sang gì không. Phụ nữ thì khoảng 20 âm lịch lo xắt cà rốt, su hào và phơi kiệu để làm dưa món, vừa lên lịch tính toán đi chợ mua sắm trước những thứ đồ khô như gạo, đậu, đường, mắm, muối. 23 cúng ông táo, 24 và 25 làm mứt, 26 tết gói bánh tét, 27 tết xắt thịt và ủ để 28 gói tré. 29 tưởng nghỉ ngơi hóa ra phải làm món phá lấu, đi biếu quà họ hàng. Sáng 30 tết vào thăm mộ mời ông bà về ăn tết, đơm bánh trái lên bàn thờ, sau đó thì cắm đầu vào bếp chuẩn bị cúng tất niên, mãi cho đến khi chương trình Táo quân lên tivi thì đám cháu vẫn còn đang lọ mọ lau nhà. Mười giờ đêm mới lôi áo quần ra ủi để sáng mùng một đi chùa.
Ấy chỉ mới là lên lịch. Còn thực hiện cụ thể thì phải gọi là đệ nhất công phu. Mứt gừng, mứt dừa, mứt me, bánh thuẫn, bánh đậu xanh hồi ấy bà nội và mẹ tôi đều tự làm hết. Để gói bánh chưng, bánh tét thì phải ra chợ đặt lá dong, dây lạt, hôm sau gói thì hôm trước phải làm nhân đậu xanh, ướp thịt, đãi nếp. Nhân đậu xanh phải nấu chín, rồi đánh cho nhuyễn, thêm gia vị hành tiêu hạt nêm, vo lại thành viên tròn hoặc thỏi dài, nếp vo sạch, bỏ vào rổ và gác chéo hai dây lá chuối để làm phép. Khi gói thường là giấc 1 giờ sáng, sao cho 5 giờ xong để bắc lên nồi nấu đến tối thì vớt bánh. Lúc vớt bánh thì y chang như một trận đánh nhỏ với tổng chỉ huy là ông nội. Nào ghế, nào ván để ép bánh, nào vải để lau bánh, rồi chùi rửa thùng nấu bánh và dọn sạch đống củi lửa. Còn làm tré, một món ăn đặc sản của miền Trung, thì cũng rắc rối không kém. Hôm nay làm thì hôm trước phải xắt riềng và tỏi thành sợi mỏng, luộc thịt rồi xắt nhỏ ra, trộn tất cả lại thêm gia vị, ủ qua một ngày rồi mới gói. Trong lúc ủ, ba tôi hay chở một đứa nhóc trong nhà đi ra ngoại thành tìm hái lá ổi-một nguyên liệu không thể thiếu khi gói. Có lá ổi thì mới làm cho món tré thơm ngon và khô ráo. Lá ổi hái về rửa sạch, lau khô, dùng làm lớp áo bên trong cho tré, gói phủ bên ngoài lớp lá chuối được cắt khéo léo thành từng mảnh hình vuông to hơn bàn tay một chút. Mà nghĩ cũng ngộ! Thịt còn nguyên khối thì lại xắt nhỏ ra, sau gói thì nắm lại cũng thành một khối, lúc ăn lại vẽ cho nhỏ ra để nhấm nháp. Mắc mệt!
Nhưng người Huế nhà tôi ăn Tết cũng rất ư là thú vị!
-Năm ni không chi hí.
-Mạ mi năm mô cũng nói không chi, ba sau cái chi cũng làm.
Tiếng ông bà nội rủ rỉ trong bếp, tiếng ba và chú út cười hả hả. Năm nào tôi cũng được nghe mấy câu quen thuộc này vang lên từ nhà bếp vào những buổi sáng trời thanh và lạnh, khi ba tôi lật sang tờ lịch xuất hiện dòng chữ "tiết lập xuân". Ngoài đường, lá bàng đỏ rụng đầy lối đi, chim bay rào rào qua những chùm lá non mới nhú trên hàng cây trước hiên. Nhà tôi bắt đầu náo nức từ đó. Những cánh cửa được lau chùi kĩ lưỡng, chăn màn giặt thật sạch, củi nấu bánh chưng cũng được chất đống sau bếp, dao kéo mài thật sắc, rổ rá thì mua thêm.
Ngày đưa ông Táo về trời, bà nội dậy cúng thiệt sớm. Bà thường nói vui với đám cháu rằng cúng sớm cho ông Táo về trời sớm, đi trễ đường đông. Mâm cúng ông táo khá đơn giản: vài dĩa xôi chén chè, xấp giấy vàng mã có hình cá chép và hai bộ quần áo cho ông Táo đi đường. Ở đất Khánh Hòa này, tục thờ ông Táo không cầu kì: chỉ cần để lên trang thờ (không có thì một tầng trên kệ bếp cũng được) bát nhang và bình hoa, quả bồng để đơm bánh trái là xong; không có tục thờ miếng đất nung hình một bà hai ông như ngoài Huế; cũng chẳng có tục thả cá chép rườm rà như ngoài Bắc. Và thế là ông táo ung dung lên trời, vắng nhà đến tận 30 Tết mới về lại. Trong những ngày đó, nhà tôi hay đùa là "quậy thoải mái vì không có ông Táo viết vào sổ đâu".
Tôi thích nhất là vào đêm giao thừa, khi áo quần đã chuẩn bị xong xuôi, mọi người đi ngủ hết thì chỉ còn nội và tôi thức. Nội sẽ đem cái cơi đựng trầu của bà cố để lại, lôi bịch bánh mứt ra và hai bà cháu cùng xếp vào đó. Trong hương trầm thoang thoảng, hương đêm giao thừa trong lành mà thiêng liêng, bà cháu tôi lẩn quẩn với mâm cúng ngoài trời mãi đến một giờ sáng mới đi ngủ. Thường là cả nhà ngủ rất say vì ai nấy cũng đã thấm mệt sau một ngày cúng kiến, dọn dẹp.
Sáng mùng một là ngày truyền thống bất di bất dịch và độc đáo của nhà nội. Cứ nghe tiếng chú út la to lên: "Tết mà ngủ" thì cả nhà bật cười và lục tục dậy. Năm giờ sáng, bà nội sẽ thắp một khoanh nhang trầm còn chú tôi sẽ dậy mở nhạc, bắt đầu luôn là bài Happy new year của nhóm ABBA rồi mới tới những bài nhạc xuân khác. Rồi chú sẽ nổi lửa hầm lại gà và bò, chuẩn bị cho món phở. Đã mấy chục năm nay, cứ bảy giờ sáng đầu tiên của năm mới, cả nhà sẽ cùng sì sụp bên nồi phở nghi ngút khói, thơm ngon mùi vị của tình thân gia đình. Đúng một tiếng sau, mọi người khăn áo nghiêm túc, tề tựu ở phòng khách để chụp hình bên cây mai và chúc tết lẫn nhau. Đám con nít chúng tôi thích nhất tiết mục lì xì. Mà lì xì nhà tôi cũng rất có quy tắc. Người lớn nhất nhà lì xì trước, rồi theo thứ tự nhỏ dần. Sau đó thì giải tán để đi chùa và thăm nhà ngoại, để lại ông bà nội khăn đóng áo dài bên hộp mứt tết ngóng hàng xóm sang thăm.
Ăn tết kiểu nhà nội tôi hơi cực nhưng rất vui! Những buổi tối rảnh rỗi, cả nhà thường quây quần chơi xăm hường, một trò chơi cung đình tao nhã của người Huế. Đan xen với tiếng đổ xúc xắc leng keng trong cái tô sứ kiểu màu trắng là tiếng hô: "tứ tự nhất hường", "phân song tam hường", thỉnh thoảng có người cướp ông trạng của người kia rồi phá lên cười nắc nẻ, hốt hết thẻ trên bàn về phía mình. Hồi nhỏ tôi khá sợ trò này, chỉ dám mon men ngồi nhìn từ xa chứ không dám lại gần vì nghe bà nội bảo bộ thẻ xăm hường làm từ xương (lớn lên mới biết là xương bò). Chơi cho đến khi ai nấy ngáp ngắn ngáp dài thì kết thúc, ai thắng móc tiền ra trả lại vì cốt yếu chỉ chơi trong nhà cho vui.
Rồi xuân đi qua, những chậu mai ra đặc lá mới, chen hoa rụng tơi bời trên thềm nhà, trả lại nếp sinh hoạt đời thường. Ba và chút út thu dọn bàn ghế, chậu hoa đem cất, còn thủ thỉ bàn với nhau "sang năm mình sẽ thế này...mình sẽ thế kia...".
Tôi là thế hệ thứ ba, sinh ra và lớn lên ở mảnh đất xứ Trầm, dù đã có gia đình riêng nhưng hễ tết đến xuân về vẫn xếp mọi thứ qua một bên để tham gia những hoạt động chung cùng nhà nội, cố gắng giữ gìn truyền thống cho con mình. Thiết nghĩ, bao nhiêu ngày trong năm cũng từng đó thứ, nhưng sao mỗi khi Tết đến, tôi lại mong bước chân về nhà để ăn tô phở đầy ắp thịt mà tự tay chú út múc cho, để hít mùi hương trầm quấn quýt trong giọt nắng ban mai, và để còn được nhận lì xì cùng cái xoa đầu của bà nội: "Cha mi, lớn rồi nhưng nội vẫn để dành lì xì cho mi, đứa cháu mà tau lo nhất trong nhà".



Bình luận